ĐỐNG HỒ 20-11

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (nguyenvanquan)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Video_13cailuongEnglish.flv Chuc_mung_nam_moi_2013_41.swf Happy_new_year_2013_2_1.swf Chuc_mung_nam_moi_2013_4.swf Chuc_mung_nam_moi_2013.swf Chuc_mung_nam_moi_2013_3.swf Chuc_mung_nam_moi_2013_2.swf Chuc_mung_nam_moi_2013_1.swf Chuc_2013_Quang_loan.swf Loan_dem_giang_sinh_2012.swf Love2.swf Giang_sinh_yeu_thuong_2012.swf Lam_nhac_t_thu.swf MOV04486.flv DSC04488.jpg DSC04446.jpg DSC04439.jpg DSC04427.jpg DSC04453.jpg DSC04463.jpg

    Từ trái sang phải

    "Mỗi ngày đến trường là một ngày vui"

    LIÊN KẾT WEB

    Điểm tin trong ngày:

    MỜI BẠN CÙNG DU LỊCH

    Liên kết web

    Chào mừng quý vị đến với Website của Nguyễn Văn Quân.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Diễn đàn > Bạn và tôi >

    Giới thiệu chung về Bắc Giang!

    THÔNG TIN TỔNG QUAN

         

    Bắc Giang có nhiều tên gọi và quy mô hành chính khác nhau, tên gọi “Bắc Giang” xuất hiện đầu tiên trên bản đồ hành chính vào thời nhà Lý (thế kỷ XI - XIII). Lúc đó, Bắc Giang là một trong 24 lộ (tên đơn vị hành chính) của cả nước, gần trùng với địa giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay. 

                Bắc Giang là một miền đất cổ, có truyền thống lịch sử gắn bó cùng với cả nước trong suốt quá trình dựng n­ước và giữ nư­ớc hàng nghìn năm qua. Nơi đây là một trong những địa bàn gốc - quê hư­ơng sinh tụ và phát triển đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

                 Bắc Giang từng đ­ược ng­ười xư­a ví là “phên dậu”, là một trong “tứ trấn” trọng yếu của đất n­ước. Miền đất này từng là nơi ngăn chặn, là chiến trư­ờng lớn của quân dân cả n­ước chống lại những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến ph­ương Bắc xư­a. Sử xanh bia đá còn ghi những dấu tích lịch sử nổi tiếng nh­ư địa danh phòng tuyến sông Cầu của quân dân nhà Lý chống quân Tống; Nội Bàng, Xa Lý của quân dân nhà Trần chống quân Nguyên - Mông; Cầm Trạm - X­ương Giang của quân dân nhà Lê chống quân Minh đã chôn vùi mộng xâm lăng của các đạo quân xâm lư­ợc, mãi mãi đi vào lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc.             Sau một giai đoạn lịch sử dài tách nhập, thay đổi tên gọi, ngày 6-11-1996, tỉnh Hà Bắc đ­ược chia trở lại thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Tỉnh Bắc Giang chính thức đ­ược thành lập và hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ ngày 01- 01-1997, với 10 đơn vị hành chính gồm: Thị xã Bắc Giang (thành phố Bắc Giang hôm nay) là trung tâm và 9 huyện là: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yên, Tân Yên và Hiệp Hoà. - Vị trí: Nằm cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị 110 về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía Đông. Phía Bắc và Đông Bắc tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải D­ương và Quảng Ninh.  - Diện tích: 3.882,2 km2 - Địa hình: Trung du (chiếm 10,5%) và miền núi (chiếm 89,5%) - Khí hậu: Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông bắc. Một năm có bốn mùa rõ rệt. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình 22 - 23oC, độ ẩm dao động lớn, từ 73 - 87%.  - Dân số và lao động: Năm 2005, dân số toàn tỉnh khoảng 1,58 triệu ng­ười. Số người trong độ tuổi lao động là 980.000 người (chiếm 62 % dân số). Số lao động tham gia hoạt động kinh tế khoảng 830.000 người. Trong đó tham gia trong ngành công nghiệp xây dựng là 8,86 %; dịch vụ là 14,57 %; Nông, lâm nghiệp, thủy sản là 76,58 % tổng số lao động.  - Dân tộc: Bắc Giang có 27 dân tộc anh em, trong đó các dân tộc thiếu số chiếm 12,9 %. - Điều kiện kết cấu hạ tầng:  
    Hệ thống giao thông đư­ợc phân bổ đều và thuận tiện bao gồm cả đ­ường bộ, đ­ường sắt và đư­ờng sông.  Mạng lưới đường bộ gồm hệ thống quốc lộ 1A, đường tỉnh, đường huyện, đường xã với tổng chiều dài 4008 km. Trong đó quốc lộ gồm 5 tuyến với tổng chiều dài là 277,5 km. Đường tỉnh gồm 18 tuyến với tổng chiều dài 387,5 km. Đường huyện có 54 tuyến với tổng chiều dài 469,5 km. Đường liên xã có tổng chiều dài 2874 km. Mật độ đường đạt 0,3 km/ km2 ở cả 3 vùng đồng bằng, trung du, miền núi. Tuy nhiên chất lượng nhìn chung còn thấp, nhiều tuyến đường chưa được nâng cấp trải nhựa. Đặc biệt là các tuyến đường nằm ở miền núi, trung du và các tuyến đường huyện xã. Trên địa bàn có ba con sông lớn chảy qua là sông Thư­ơng, sông Cầu, sông Lục Nam với tổng chiều dài 347 km (hiện đang khai thác 187 km) tạo nên một mạng lưới giao thông thuỷ thuận tiện. Hệ thống sông này cũng là nguồn cung cấp n­ước mặt phong phú với trữ lượng hàng trăm triệu mét khối cho hoạt động sinh hoạt và sản xuất. Trên các tuyến sông có 3 hệ thống cảng: Cảng trung ương, cảng chuyên dùng và cảng địa phương với tổng năng lực bốc xếp khoảng 200 nghìn – 300 nghìn tấn. Bắc Giang có 3 tuyến đư­ờng sắt đi qua  với tổng chiều dài 87 km gồm các tuyến Hà Nội – Đồng Đăng (Lạng Sơn);   Hà Nội – Kép (Bắc Giang) – Hạ Long (Quảng Ninh); Hà Nội – Kép - Lưu Xá.  Nguồn điện cung cấp cho tỉnh Bắc Giang hiện nay lấy từ hệ thống chung qua các đường truyền tải điện 220 KV, 110 KV : Phả Lại (Hải Dương)– Bắc  Giang – Đông Anh (Hà Nội), qua trạm trung gian Đình Trám và trạm 220 KV Bắc Giang, đảm bảo cung cấp điện cho thành phố Bắc Giang, các huyện và các khu công nghiệp. Hệ thống cấp nước sạch nhìn chung đã đảm bảo yêu cầu sử dụng của thành phố Bắc  Giang. Riêng đối với các thị trấn huyện lỵ , và vùng nông thôn tỷ lệ được cung cấp nước sạch mới đạt 60 % dân số. - Tài nguyên đất đai:  Bắc Giang có 382 nghìn ha đất tự nhiên, trong đó đất đang sử dụng chiếm 77% tổng diện tích. Địa phư­ơng có trên 20 nghìn ha đất đồi núi chưa sử dụng là một tiềm năng lớn cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư­ liên doanh liên kết trồng rừng, chế biến nông lâm sản và phát triển công nghiệp trên địa bàn. - Cơ cấu kinh tế:Hết năm 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Giang là 9,3 % (cao nhất trong 5 năm qua).  Về cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Trong đó tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 45 % năm 2004 xuống còn 43, 5 % năm 2005. Tỉ trọng công nghiệp – xây dựng tăng từ 20,5 % năm 2004 lên 22% năm 2005. Dịch vụ chiếm 34,5 %. - Đời sống dân cư­:

    GDP bình quân đầu ngư­ời vào khoảng 4,8 triệu đồng/năm. Tỷ lệ hộ nghèo theo  chuẩn mới là 30,67%. Thu nhập nông dân ở nông thôn ước đạt trên 26 triệu đồng/ha đất canh tác. Điện, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục đã đến hầu hết 229 xã, phường, thị trấn.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thị Thuận @ 11:24 30/03/2009
    Số lượt xem: 748
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LỊCH SỬ - VĂN HOÁ BẮC GIANG.   
         

    Làng quê Kinh Bắc xưa, Bắc Giang nay là vùng đất tụ cư của nhiều dân tộc cùng chung sống. Vùng quê này ở vào một địa thế thuận lợi, nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, được bồi đắp phù sa bởi các con sông lớn như Sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, có các vùng núi cao với nhiều lâm sản quý, lại có một vùng trung du rộng lớn thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp. Cư dân sinh sống ở đây bằng nghề nông là chính. Họ đã hình thành nên các làng, bản với kiểu thức kinh tế và kiểu thức văn hoá riêng. Từ cách trồng trọt, chăn nuôi, từ nếp ăn, nếp ở, trang phục, phong tục, tập quán...cho đến cách nghĩ, cách làm và lối sống đã tạo nên truyền thống  và đặc trưng văn hoá làng xã Bắc Giang.Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, truyền thống ấy vẫn được giữ gìn và phát huy như làng  Vân Xuyên (Hoàng Vân - Hiệp Hoà ), vì cả làng theo cách mạng mà còn gọi là làng Đỏ; làng Sặt ( Liên Sơn- Tân Yên ) là làng kháng chiến; lại có làng thủ công như làng gốm Thổ Hà; làng rưọu VânHà(Việt Yên); làng bún Đa Mai (thành phố Bắc Giang); làng mây tre đan Phúc Long, Phúc Tằng(Tăng Tiến - Việt Yên);  làng rèn sắt Đức Thắng (Hiệp Hoà); làng quan họ Thổ Hà (Vân Hà - Việt Yên); làng tuồng Tân Dĩnh (Lạng Giang); làng chèo Đồng Quan (Đồng Sơn – Yên Dũng); làng Then (Thái Đào - Lạng Giang)...Lại còn có cả làng võ, làng vật ở Yên Thế, Hiệp Hoà, làng thợ ở Yên Dũng. Và đặc trưng hơn là các bản dân tộc ít người như bản Dao ở Đồng Làng ( Sơn Động ), bản Sán Chí ở Kiên Lao (Lục Ngạn ), bản Cao Lan ở Nghè Mản ( Lục Sơn - Lục Nam )....Các dân tộc anh em sinh sống trên những bản làng này đã tạo nên bản sắc văn hoá riêng rất đa dạng và phong phú.

     Biểu tượng nghìn đời của làng quê cổ là luỹ tre làng với ngôi chùa, ngôi đình và các đền, miếu, văn chỉ. Đó chính là những thiết chế gắn liền với tín ngưỡng thờ thành hoàng là cơ sở tạo nên truyền thống, phong tục, tập quán, lễ hội, đình đám và nội dung văn hoá của làng. Bắc Giang có nhiều ngôi đình không những mang giá trị lịch sử, văn hoá tiêu biểu mà còn trở thành biểu trưng văn hoá của làng xã Việt Nam như đình Lỗ Hạnh (Đồng Lỗ - Hiệp Hoà ), xây năm 1576; đình Thổ Hà (Vân Hà - Việt Yên ) xây dựng năm 1686; đình Phù Lão (Đào Mỹ - Lạng Giang) xây dựng thế kỷ XVII; đình Hả ( Tân Trung – Tân Yên); đình Đông (Bích Động - Việt Yên); đình Dĩnh Thép ( xã Tam Hiệp - Yên Thế) ). Không chỉ có đình mà nhiều ngôi chùa ở bắc Giang cũng đã được ghi nhận trong lịch sử Phật giáo Việt Nam như: chùa Đức La (hay còn gọi là chùa Vĩnh Nghiêm, ở xã Trí Yên – Yên Dũng); chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn - Việt Yên); chùa Kem (xã Nham Sơn – Yên Dũng)...Ngoài những đình, chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử, văn hoá, hầu hết các làng ở Bắc Giang đều có đình là nơi thờ cúng thành hoàng làng. Hội làng đã trở thành đặc trưng riêng của mỗi làng và được tổ chức ở hầu hết các làng xã. Hội làng tồn tại hàng nghìn năm với các nghi lễ, nội dung, hình thức riêng song mục đích chính của lễ hội đều nhằm giúp cho sự thống nhất, đoàn kết trong cộng đồng làng xã, giáo dục truyền thống văn hoá, lịch sử, truyền thống chống ngoại xâm, truyền thống hiếu học, phát triển ngành nghề. Do những biến cố lịch sử từng giai đoạn, sự thay đổi chuyển biến của xã hội từng thời kỳ cùng với thời gian và tác động của thiên nhiên mà làng xã và lễ hội cũng có chung số phận thăng trầm. Thiết chế văn hoá làng bị phá  vỡ, nội dung văn hoá làng cũng bị phôi pha, mờ nhạt. Nhiều ngôi đình, ngôi chùa, cây đa, bến nước...vốn là biểu tượng văn hoá của dân tộc cũng mất đi vẻ uy nghiêm, nhiều di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh bị cảnh xâm lấn mà trở thành hoang phế, nhiều lễ hội chỉ còn trong ký ức của người dân.

    Từ cuối những năm tám mươi, cùng với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, ở Hà Bắc (cũ), ngành Văn hoá - Thông tin chủ trương triển khai xây dựng làng văn hoáquy ước làng.  Đầu năm 1990, Bộ Văn hoá - Thông tin mở cuộc hội thảo về làng văn hoá đặt tại Hà Bắc. Sau hội thảo và thực tiễn hơn 10 năm Trung ương phát động xây dựng làng văn hoá trên toàn quốc đã khẳng định sự tồn tại của làng và sức sống của làng văn hoá trong thời đại mới. Những nội dung của văn hoá làng được đặt ra trong tiến trình xây dựng trên tất cả bình diện: văn hoá xã hội, văn hoá tư tưởng, văn hoá nghệ thuật, văn hoá tâm linh. Ở từng bình diện, nhiều biểu tượng và nét đẹp văn hoá đã trở thành biểu trưng mang giá trị truyền thống như: luỹ tre làng, cây đa, bến nước, sân đình, lời ru, tiếng trống chèo, lời ca quan họ, điệu hát then...được phục hồi. Những di tích lịch sử, văn hoá, những danh lam thắng cảnh không những được Nhà nước quan tâm, mà nhân dân còn phấn khởi đầu tư công sức, tiền của giữ gìn tu bổ. Những di tích khảo cổ, văn bia, thần tích, thần phả, những câu chuyện dân gian, truyền thuyết, những phương ngôn, ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ, và biết bao hương ước cũ đã được sưu tầm, khai thác và  gìn giữ.

    Avatar
    Quê hương của em đó, còn nghèo nàn lắm. Hy vọng sẽ có một ngày được đón tiếp người Quảng Trị ra thăm Bắc Giang! Chào anh nhé, em đi làm đây.
     
    Gửi ý kiến